ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐỒNG TIỀN CHÍNH-ĐÔ LA ÚC CHÂU(AUD)

Khái quát chung

Úc châu trong nhiều thập kỷ trở lại đây luôn được biết đến như một nền kinh tế mang tính cạnh tranh cao và nổi bật trên thế giới. Với tốc độ phát triển kinh tế ổn định trung bình khoảng 3,2%/năm trong vòng hơn 20 năm qua, lạm phát thấp và ổn định duy trì trong khoảng 2%- 4% trong mười năm qua, tỷ lệ thất nghiệp thấp (hiện tại 01/2015 là 6.1% so với mức cao nhất 11% của năm 1992), Úc đang được coi là nền kinh tế mở nhất trên thế giới, phát triển năng động bậc nhất trong số các nước công nghiệp phát triển. Úc có một khu vực kinh tế tư nhân hoạt động hiệu quả, một thị trường lao động năng động và một khu vực thương mại rất có tính cạnh tranh.

Hình 2.13: Lạm phát ổn định, biên độ biến động từ 2%-4% trong 

Nền kinh tế công, nông nghiệp khá phát triển. Trước kia hai ngành chủ yếu và góp phần lớn vào GDP là chăn nuôi, trồng trọt. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Úc thay đổi cơ cấu kinh tế và nay ngành công nghiệp chế tạo phát triển mạnh. Đặc biệt Úc là một trong số ít quốc gia có nền kinh tế tri thức mạnh với ngành công nghệ thông tin và viễn thông (ICT) làm mũi nhọn. Thị trường ICT của Úc có trị giá 89 tỷ USD với hơn 25.000 công ty đang hoạt động và với 236.000 nhân lực làm việc. Thương mại Úc tiếp tục xu hướng nhập siêu, trong 2013 Úc nhập siêu 648 triệu AU$.

Các ngành kinh tế trọng điểm Khai khoáng

Không phải ngẫu nhiên khi nói đến ÚC Châu, người ta lại liên tưởng đến các loại kim khoáng quặng nói chung và đặc biệt là quặng sắt (Iron Ore, Copper) và Vàng. Khai khoáng là một trong những ngành công nghiệp xuất hiện sớm nhất ở Úc. Và một trong những ngành quan trọng nhất phải kể tới ngành khai thác than đá. Than được khai thác ở tất cả các bang của Úc. Nó được dùng để sản xuất nhiệt điện và xuất khẩu. 75% sản lượng than được xuất khẩu, chủ yếu là tới thị trường Đông Á. Than cung cấp 85% sản lượng điện tiêu thụ cho quốc gia này.

Khai khoáng đóng góp 5.6% vào GDP, nhưng lại chiếm tới 35% kim ngạch xuất khẩu của Úc. Đây là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới về than đá (29%), quặng sắt, chì, kim cương, titan, thiếc và riniconi; đứng thứ hai về vàng và uranium; đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu nhôm. Cũng chính vì đặc điểm này mà đồng đô la Úc (AUD) thường tăng giảm cùng với diễn biến giá cả của các món hàng kim khoáng quăng. Đặc biệt là quặng sắt, đồng và vàng.

Hình 2.14: Cặp tiền AUDUSD và COPPER biến động trong mối tương quan chặt chẽ với nhau.
Hình 2.15: Mối tương quan giữa cặp tiền AUDUSD và Vàng

Nông nghiệp

Nông nghiệp ở Úc phát triển theo hướng hiện đại và thậm chí được xem như một ngành công nghiệp, thu hút 420.000 lao động và đóng góp 3% vào GDP. Sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi của Úc rất phong phú về chủng loại. Chỉ 20% sản lượng được tiêu thụ trong nước, còn lại đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu. Úc là quốc gia có tiếng nói mạnh mẽ ủng hộ tự do thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp. Trợ cấp nông nghiệp của nước này gần như không đáng kể, mặc dù vẫn có bảo hộ trong một số “trường hợp ngoại lệ” như khi xảy ra hạn hán. Nền nông nghiệp Úc phải đối mặt với một số thách thức như: vấn đề bảo vệ nguồn nước để chống hạn hán, chống nhiễm mặn đất và cuộc tranh cãi xung quanh việc phát triển thực phẩm biến đổi gen. Ở thị trường trong nước, các doanh nghiệp kinh doanh nông phẩm phải cạnh tranh gay gắt để giành cơ hội xuất khẩu. Úc là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới xuất khẩu thuốc phiện hợp pháp để làm dược phẩm. Rượu, thịt bò, lông cừu là những sản phẩm nổi tiếng của thị trường này.

Chế biến thực phẩm

Ngành chế biến thực phẩm của Úc rất đa dạng về chủng loại sản phẩm và là một thành phần thiết yếu của nền kinh tế quốc gia này. Đây là ngành công nghiệp lớn nhất cả nƣớc với doanh thu hơn 111.2 tỷ USD trong năm 2011-2012.

Thương mại

Bên cạnh việc duy trì tốc độ phát triển thương mại hàng hoá mạnh mẽ, thị trường xuất khẩu các dịch vụ mới và các sản phẩm sản xuất chế tạo tinh vi cũng đã phát triển. Nhờ sự đa dạng hoá cơ sở xuất khẩu Úc hiện không chỉ là nước xuất khẩu hàng hoá mà còn là nước có nền công nghiệp sản xuất chế tạo và công nghiệp dịch vụ tinh vi. Thương mại hàng hoá của Úc phát triển mạnh, thị trường xuất khẩu các dịch vụ mới và các sản phẩm sản xuất chế tạo tinh vi cũng đã nổi lên.

Điểm mạnh nhất của hoạt động xuất khẩu Úc được thể hiện trong hoạt động xuất khẩu các sản phẩm sơ cấp. Sản phẩm sơ cấp xuất khẩu của Úc bao gồm nông sản, khoáng sản và sản phẩm năng lượng. Những sản phẩm này có đóng góp rất to lớn đối với sự phát triển quốc gia.

Úc là nước dẫn đầu thế giới về hàng nông sản và thực phẩm chất lượng cao. Úc cũng xuất khẩu những sản phẩm sơ cấp của mình dưới hình thức gia công xuất khẩu. Những nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng và thay đổi to lớn trong xuất khẩu của Úc bao gồm: sự đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá thị trường mục tiêu và đổi mới, tạo giá trị gia tăng ngay từ sản phẩm gốc, tăng nhu cầu của thế giới đối với đồ uống và thực phẩm gia công.

Đầu tư

Úc là một địa chỉ đầu tư có sức cạnh tranh cao ở châu Á Thái Bình Dương với khá nhiều lợi thế thu hút đầu tư như: kinh tế mở, lạm phát và lãi suất thấp, lực lượng lao động tận tụy, đáng tin cậy và tỷ lệ tranh chấp công nghiệp thấp, lực lượng lao động biết sử dụng nhiều thứ tiếng, được đào tạo ở trình độ cao, lành nghề, biết sử dụng máy vi tính, môi trường pháp lý có tính mở và hiệu quả, thị trường nội địa có quy mô tương đối lớn và liên kết chặt chẽ với khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng..v.v

Giai đoạn 2012 – 2013, lượng đầu tư nước ngoài vào Úc đã đạt 135,7 tỷ $.

Sự phát triển công nghệ và đổi mới ngày càng trở nên quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Úc. Trong suốt thập kỷ qua, Úc đã nhanh chóng thực hiện phát triển công nghệ thông tin để tăng giá trị gia tăng cho các hoạt động kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

Ngân hàng dự trữ Úc- Bank Reserve of Australia (RBA)

Được biết tới như là ngân hàng quốc gia Úc, chịu trách nhiệm hoạch định các chính sách tài chính, tiền tệ thông qua Ủy ban chính sách tiền tệ (The monetary policy committee). Cơ quan này được thành lập bao gồm Thống đốc, phó thống đốc ngân hàng, thư ký bộ ngân khố, và sáu thành viên độc lập khác được chỉ định bởi chính phủ. Các thay đổi trong chính sách tiền tệ được thiết lập bởi Ủy ban này. RBA có ba mục tiêu chính trong điều hành chính sách tài chính, tiền tệ là:

  •   Thiết lập sự ổn định của đồng tiền Úc
  •   Duy trì việc làm đầy đủ trong nền kinh tế
  •   Duy trì sự thịnh vượng kinh tế và phúc lợi người dân ÚcTheo đuổi các mục tiêu này, chính phủ Úc thường đặt mục tiêu lạm phát trong khoảng 2%- 3%. Và Ngân hàng Úc châu lấy mục tiêu này làm “kim chỉ nam” để tạo ra tăng trưởng kinh tế trong khi vẫn kiểm soát được lạm phát, ngăn chặn sự mất giá của tiền tệ Úc. Traders on the street đặc biệt theo dõi chặt chẽ con số lạm phát này vì đó là một trong những tín hiệu cảnh báo sớm nhất cho việc tăng, giảm lãi suất của RBA. Khi lạm phát vượt qua range mục tiêu này nó sẽ trở thành chỉ báo RBA có thể sẽ tăng lãi suất. Trong trường hợp ngược lại, RBA có thể sẽ cắt giảm phân lời.Cũng như bao central bank khác trên thế giới, RBA có hai công cụ chính trong điều hành chính sách tiền tệ là lãi suất tiền mặt (cash rate) và hoạt động thị trường mở (open market operations).Cash rate đây là con số lãi suất được quy định bởi Ngân hàng trung ương Úc. Lãi suất này được tính cho các khoản vay qua đêm trên thị trường tiền tệ. Sự tăng giảm của nó sẽ trực tiếp tác động đến các loại lãi suất khác, qua đó làm thay đổi toàn bộ cấu trúc lãi suất cho vay trong nền kinh tế.
Hình 2.16: Chênh lệch lãi suất giữa doollar Úc và dollar Mỹ đóng vai trò là chỉ báo cho xu hướng cặp tiền AUDUSD

Open market operations

Bằng việc tiến hành mua bán các loại tài sản tài chính từ các ngân hàng thương mại, RBA có thể tác động vào lượng tiền mặt dự trữ tại các ngân hàng này. Từ đó tác động đến lượng cung tiền trong nền kinh tế. Hoạt động này cũng giống như các central bank khác trên thế giới.

Đặc điểm chính của dollar Úc

  •   Tương quan chặt chẽ với giả cả hàng hóa
  •   Chịu tác động bởi hoạt động carry trade
  •   Chênh lệch lãi suất của Úc và nước ngoài là chỉ báo sớm cho cặp tiền tương ứng
  •   Chịu tác động của thời tiết